Họng là một ống cơ màng nối từ vòm họng xuống miệng thực quản, tiếp giáp ở dưới với thanh quản (ở trước) thực quản (phía sau) và được chia làm 3 phần: họng mũi, họng miệng và hạ họng.
Nói đến viêm họng chủ yếu là nói đến viêm ở họng miệng. Trong viêm họng cấp tính chủ yếu là do viêm Amygdale khẩu cái. Do đó hiện nay người ta có xu hướng nhập lại thành Viêm họng-Viêm Amygdale cấp.
Trong lúc đó viêm họng mãn tính và viêm Amygdale mãn tính vẫn là hai vấn đề riêng biệt
Viêm họng cấp tính:
Là bệnh rất thường gặp ở cả người lớn lẫn trẻ em nhất là về mùa đông khi thời tiết thay đổi. Bệnh có thể xuất hiện riêng biệt hoặc đồng thời với viêm VA, viêm A, viêm mũi, viêm xoang v.v… hoặc trong các bệnh nhiễm khuẩn lây của đường hô hấp trên như cúm, sởi.
Cần nhắc lại rằng viêm họng cấp tính tức là viêm cấp tính của niêm mạc họng miệng kết hợp chủ yếu với viêm A khẩu cái, một số ít trường hợp kết hợp với viêm A đáy lưỡi.
Trong viêm họng cấp, chúng ta nghiên cứu chủ yếu là viêm họng đỏ cấp, viêm họng bạch hầu và viêm họng Vincent do tính chất thường gặp và các sự trầm trọng của các biến chứng của chúng.
1. Viêm họng do Virus, vi khuẩn:
a. Virus :
Là chủ yếu chiếm 60 – 80% gồm Adénovirus, virus cúm, virus para – influenzae, virus Coxsakie, virus Herpès, virus Zona, EBV.
b. Vi khuẩn:
Ít gặp hơn, chiếm 20 – 40% gồm liên cầu tan huyết nhóm A (còn các nhóm B, C, G ít gặp), Haemophilus influenzae, tụ cầu vàng, Moraxella catarrhalis, vi khuẩn kị khí.
Các vi khuẩn Neiseria, phế cầu, mycoplasme rất hiếm gặp.
2. Nguyên nhân:
Do thời tiết thay đổi, nhất là về mùa lạnh. Viêm họng đỏ cấp thường bắt đầu bằng sự nhiễm vi rút. Sau đó do độc tố của vi rút, cấu trúc giải phẩu của amiđan và sức đề kháng của cơ thể đã gây nên sự bội nhiễm các tạp khuẩn khác, thường là các vi khuẩn hội sinh có sẵn trong họng như liên cầu, phế cầu và đặc biệt nguy hiểm là loại liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A.
Bệnh lây lan bằng nước bọt, nước mũi.
3. Lâm sàng:
Bệnh thường xảy ra đột ngột .
a. Triệu chứng toàn thân:
Sốt vừa (38 – 390) hoặc sốt cao, người ớn lạnh, nhức đầu, đau mình mẩy, mệt mỏi, kém ăn.
b. Triệu chứng cơ năng:
Lúc đầu là cảm giác khô nóng ở trong họng, dần dần đau rát trong họng nhất là khi nuốt kể cả chất lỏng. Khi ho, khi nói thì đau nhói lên tai.
Có thể ho từng cơn, ho khan hoặc ho có đờm nhầy.
Giọng nói mất trong và có thể khàn tiếng nhẹ.
Thường có kèm theo chảy mũi nhầy và tắc mũi.
c. Triệu chứng thực thể:
Toàn bộ niêm mạc họng đỏ, xuất tiết. Tổ chức bạch huyết ở thành sau họng đỏ mọng và có những mao mạch nổi rõ.
Hai amiđan khẩu cái cũng sưng to đỏ, có khi có những chấm mủ trắng hoặc lớp nhầy trắng như nước cháo phủ trên mặt A.
Trụ trước và trụ sau cũng đỏ.
Có hạch góc hàm sưng nhẹ và hơi đau.
Khám mũi thấy niêm mạc sung huyết và hốc mũi đọng xuất tiết nhầy.
4. Tiến triển :
Nếu là do virus, bệnh thường kéo dài 3 – 5 ngày thì tự khỏi, các triệu chứng giảm dần.
Nếu là do vi khuẩn bội nhiễm đặc biệt là liên cầu, bệnh thường kéo dài ngày hơn và đòi hỏi 1 sự điều trị kháng sinh có hệ thống để tránh các biến chứng có thể xẩy ra.
5. Biến chứng :
a- Biến chứng tại chỗ: Viêm tấy hoặc áp xe quanh A. Viêm tấy hoặc áp xe các khoảng bên họng, áp xe thành sau họng ở trẻ nhỏ 1-2 tuổi. Viêm tấy hoại thư vùng cổ rất hiếm gặp nhưng tiên lượng rất nặng.
b- Biến chứng lân cận: Viêm thanh khí phế quản, viêm phổi. Viêm tai giữa cấp. Viêm mũi viêm xoang cấp.
c- Biến chứng xa: Đặc biệt nếu là do liên cầu tan huyết nhóm A có thể gây viêm thận, viêm khớp, viêm nội tâm mạc Rendu Osler, choáng nhiễm độc liên cầu hoặc cá biệt có thể nhiễm trùng huyết.
6. Điều trị:
Điều đáng nhấn mạnh ở đây là nhiều tác giả đều thống nhất là mọi viêm họng đỏ cấp đơn thuần hoặc có chấm mủ trắng hoặc bựa trắng trên bề mặt amiđan, xuất hiện ở bệnh nhân trên 3 tuổi đều phải được điều trị như một viêm họng đỏ cấp do liên cầu khi không có xét nghiệm định loại virus hoặc vi khuẩn.
Do đó thái độ điều trị như sau:
a. Hoặc là điều trị bằng kháng sinh một cách hệ thống:
Penicilline V uống: 50 – 100.000 UI/kg cho trẻ em và 3 triệu UI cho người lớn chia làm 3 – 4 lần trong ngày, kéo dài 10 ngày.
Hoặc tiêm bắp thịt một liều duy nhất của Penicilline chậm loại Benzathine – Penicilline G với liều 6.000 UI cho trẻ < 30kg; 1,2 triệu UI cho trẻ >30 kg và 2,4 triệu UI cho người lớn.
Hoặc céphalosporine thế hệ I, hoặc Penicilline A trong 10 ngày.
Trường hợp dị ứng với PNC, thì có thể thay thế bằng nhóm macrolide như Josacine, Dynabac hoặc Rulid trong 10 ngày, hoặc Zithromax trong 5 ngày.
b. Hoặc làm xét nghiệm vi trùng rồi điều trị chứng bằng các thuốc hạ sốt, kháng viêm, giảm đau khi thấy các triệu chứng còn nhẹ.
Khi có kết quả vi trùng trong 3 – 4 ngày sau sẽ hiệu chỉnh điều trị.
c. Điều trị tại chỗ: súc họng và nhỏ mũi.
Để tìm hiểu thêm các bạn có thể vào trang http://www.thaythuoccuaban.com. Tại đây bạn có thể nói chuyện, tâm sự và nhận được sự tư vấn trực tiếp của Lương y Quốc gia Nguyễn Hữu Toàn. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm khi được Lương y Nguyễn Hữu Toàn bắt bệnh và chữa trị khỏi bệnh chỉ khoảng 8-12 tuần sử dụng thuốc. Các bệnh nhân ở xa sẽ được chuyển thuốc đến tận nơi, theo địa chỉ bệnh nhân cụ thể. Nếu bạn có thắc mắc về sức khỏe của mình, bạn có thể vào trang http://www.thaythuoccuaban.com/benhan.asp kể bệnh để nhận được sự tư vấn của Lương y Phòng khám đông y Nguyễn Hữu Toàn - Lô 22 - Lê Hồng Phong - Ngô Quyền - Hải Phòng ĐT: 19006834 - 031.7300111


March 17th, 2010
admin 
Posted in 


Rat thich blog nay, nghien luon , ngay nao cung phai vao.
viemhong.net is good
htc g2